Connect with us

Đời thường

“Nghiện điện thoại” bố mẹ nên làm gì?

Trong thời đại công nghệ kỹ thuật số hiện nay, khả năng trẻ sở hữu hoặc tiếp cận với chiêc điện thoại thật vô cùng dễ dàng.  Bởi khối lượng công việc ngày càng nặng nề và quỹ thời gian ngày càng hạn hẹp, nhiều bậc phụ huynh không còn cách nào khác đành “giao phó” con mình cho chiếc điện thoại thông minh. Thực trạng trên dẫn đến ở khắp mọi nơi, từ quán ăn đến bệnh viện, hàng triệu đôi mắt ngây thơ đang ánh lên những tia sáng lấp lánh bởi … ánh sáng phát ra từ chiếc điện thoại.

“Con tôi bị nghiện điện thoại”

"Nghiện điện thoại" bố mẹ nên làm gì?

Nghiên cứu gần đây của công ty Facebook cho biết 93% trong số trẻ từ 6-12 tuổi có quyền truy cập vào điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng và 66% trong số đó có thiết bị riêng. Điều này cho thấy việc kiểm soát thời gian sử dụng điện thoại, đặc biệt đối với trẻ em không phải là một việc dễ dàng. Trong một cuộc khảo sát vào năm 2018, 47% phụ huynh có con dưới 18 tuổi cảm thấy rằng con họ “nghiện” thiết bị di động. Việc lo lắng trước sự mất cân bằng giữa thời gian sinh hoạt, vui chơi và thời gian sử dụng điện thoại của phụ huynh là điều hợp lý trong xã hội hiện đại. Nhưng làm thế nào để phân biệt giới hạn của việc sử dụng điện thoại một cách bình thường hay bất thường? Dưới đây là một số câu hỏi tầm soát giúp phụ huynh “gỡ rối” thắc mắc: “Liệu con có “nghiện điện thoại” không?”:

  • Trẻ có trở nên tức giận, cáu kỉnh, lo lắng hoặc thậm chí là gây hấn khi điện thoại bị người thân lấy đi hoặc không thể sử dụng không?
  • Trẻ có từ chối hoặc né tránh các sự kiện xã hội hoặc các hoạt động ngoại khóa chỉ để tranh thủ sử dụng điện thoại không?
  • Việc sử dụng điện thoại thông minh có ảnh hưởng tiêu cực đến việc vệ sinh cá nhân, tình bạn, mối quan hệ gia đình hoặc học tập của trẻ hay không?
  • Việc sử dụng điện thoại thông minh có ảnh hưởng đến thói quen ngủ con không?
  • Có bất kỳ thay đổi lớn nào trong tâm trạng của con mà không có cách nào khác để giải thích không?
  • Có bất kỳ thay đổi lớn nào trong thói quen ăn uống của con mà không có cách nào khác để giải thích không?

Nếu trẻ đáp ứng với đa số câu hỏi dưới đây và việc “nghiện” điện thoại ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động hằng ngày của trẻ, điều phụ huynh cần cân nhắc là tìm đến các cơ sở tâm lý để có sự can thiệp chuyên môn kịp thời. Nếu đa số các câu trả lời là “Không”, việc hướng dẫn và giúp đỡ trẻ điều chỉnh thời gian phù hợp cũng là điều vô cùng thiết yếu.

“Bảo mẫu” thời đại số của trẻ

Thật không khó để nhận ra giữa trẻ và công nghệ luôn có mối quan hệ phức tạp.  Các phương tiện giáo dục thông qua công nghệ đang ngày càng phát triển và trẻ có thể kết nối với bạn bè một cách dễ dàng hơn thông qua điện thoại. Đồng thời, các thiết bị điện tử cũng đóng vai trò quan trọng như một phương tiện giải trí. Tuy nhiên, đôi lúc màn hình điện tử hấp dẫn đến nỗi trẻ khó có thể chuyển sang hoạt động khác và dẫn đến việc bỏ quên công việc cũng như mối quan tâm thường ngày. Bên cạnh đó, nghịch lý thay, máy tính và điện thoại có nguy cơ làm suy yếu khả năng ngôn ngữ và tương tác xã hội lành mạnh của trẻ  – một nhu cầu và kĩ năng vô cùng thiết yếu giúp trẻ hòa nhập và hợp tác với mọi người. Bởi màn hình không cho phép trẻ giao tiếp bằng mắt hoặc hiểu biết về cảm xúc thông qua nét mặt của người khác. Đối với trẻ vị thành niên, việc “nghiện điện thoại” có thể tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm lý, thể chất và trình độ học tập của các em.

Khi điện thoại không còn là nhu cầu

Vậy trẻ cần sử dụng điện thoại thế nào và trong bao lâu thì hợp lý? Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trẻ em dưới 2 tuổi không nên tiếp xúc với các thiết bị điện tử. Trẻ từ 2 đến 5 tuổi nên được giới hạn thời gian sử dụng tối đa trong 1 tiếng, tốt nhất nên có người lớn xem cùng.

Đối với trẻ nhỏ, công việc chính của con là vui chơi. Nhờ các hoạt động vui chơi, trẻ gia tăng trải nghiệm và phát triển ở các lĩnh vực khác nhau như vận động, ngôn ngữ, nhận thức,… Đặc biệt, các trò chơi tương tác như giả bộ, đóng vai, chơi cờ hay chơi câu đố, cùng con đọc sách,… không những giúp trẻ phát triển các kỹ năng tương tác xã hội mà còn phát triển tư duy biểu tượng và khả năng sáng tạo. Điều cần thiết với phụ huynh ngay lúc này là dành thời gian tương tác với con một cách chủ động. Khi trẻ có mối bận tâm dai dẳng đến những chiếc điện thoại, phụ huynh hãy bắt đầu với một trò chơi hoặc ứng dụng trên điện thoại trước và sau đó từ từ lôi kéo trẻ khỏi điện thoại bằng cách trò chuyện với trẻ về những nội dung trên điện thoại như “Con thấy chú Doraemon này như thế nào?”,… Sau đó, phụ huynh dần dần loại bỏ các thiết bị công nghệ và thay thế chúng bằng các hoạt động như đọc sách, bơi lội, đi xe đạp, đi công viên, siêu thị,… Việc giữ trẻ tránh xa các thiết bị công nghệ trong hai hoặc ba tuần sẽ giúp các bậc cha mẹ nhận thấy sự khác biệt trong hành vi của con. Bên cạnh việc dành thời gian chơi cùng con, cha mẹ lưu ý khuyến khích tương tác xã hội giữa con với bạn bè đồng trang lứa.

Ở những trẻ lớn hơn, phụ huynh có thể trực tiếp trao đổi với trẻ về những lợi ích và khuyết điểm mà điện thoại mang lại trên phương diện sức khỏe, cảm xúc, học tập và xã hội. Việc thiết lập giới hạn liên quan đến điện thoại như “Không cho phép sử dụng điện thoại trong bữa tối” hay “Không sử dụng điện thoại trước khi ngủ”,…cùng với lời giải thích rõ ràng về các luật lệ đó là điều cần thiết. Đồng thời, cha mẹ cần nhận thức bản thân chính là người thầy cô tốt nhất của con cái. Nếu cha mẹ chăm chú vào điện thoại hàng giờ bên cạnh trẻ, một cách vô hình, trẻ có thể học được điều đó và nghĩ đó là hành vi phù hợp. Vì thế, phụ huynh cần điều chỉnh thời gian sử dụng điện thoại một cách hợp lý. Bên cạnh đó, không ít trẻ tiếp cận với các nội dung bạo lực và “người lớn” trên điện thoại vượt mức nhận thức của trẻ mà phụ huynh không thể kiểm soát được. Điều này dẫn đến những cảm xúc cáu gắt, mất ngủ, ác mộng của trẻ. Vì thế, phụ huynh cần lưu ý việc sử dụng các biện pháp kiểm soát thích hợp để trẻ hạn chế đến mức tối thiểu việc tiếp xúc với các nội dung không phù hợp.

Công nghệ không gây hại nếu chúng được sử dụng cho mục đích phù hợp. Hãy để điện thoại trở thành công cụ phục vụ cho các mục đích học tập và sáng tạo của trẻ, thay vì ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sống của con.

Nguồn Đơn vị Tâm lý – Bệnh viện Nhi đồng Thành phố  

Xem thêm: 10 nguyên tắc an toàn bố mẹ cần ghi nhớ để bảo vệ con mình khỏi kẻ lạ

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đời thường

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Đặc trưng của chủng Covid-19 là khả năng lây nhiễm qua đường hô hấp và có thể làm người bệnh tử vong vì viêm phổi. Phụ nữ mang thai dễ nhiễm mầm bệnh qua đường hô hấp do hệ miễn dịch hoạt động kém hiệu quả và sinh lý hô hấp thay đổi trong giai đoạn mang thai. Vì vậy câu hỏi đặt ra là liệu Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

1. Nghiên cứu về khả năng lây truyền Covid-19 có lây từ mẹ sang con

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Để trả lời câu hỏi này, các nhà khoa học đã nghiên cứu sự có mặt của Covid-19 trong nước ối, máu dây rốn, và sữa của 9 thai phụ nhiễm Covid-19 cũng như dịch phết họng ở thai nhi của họ. Cả 9 thai phụ đều có sức khỏe tốt trước khi mang thai nhưng nhập viện vì viêm phổi trong khoảng từ tuần 36 đến tuần 39 + 4 ngày mang thai và có xét nghiệm dương tính với Covid-19, cùng các triệu chứng khác nhưng không phải thở máy.

Cả 9 thai nhi được sinh ra bằng cách sinh mổ, mẹ và bé đều không xuất hiện biến chứng nghiêm trọng. Xét nghiệm cho thấy không có Covid-19 trong nước ối, máu dây rốn, sữa mẹ và dịch phết họng trẻ sơ sinh được lấy mẫu.

2. Chưa có bằng chứng về sự lây nhiễm Covid-19 từ thai phụ sang thai nhi

Mặc dù có số mẫu khá nhỏ là 9 trường hợp, nghiên cứu này gợi ý rằng cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có bằng chứng Covid-19 có lây từ mẹ sang con. Đáng lưu ý là mặc dù hệ gene của Covid-19 và SARS giống nhau tới 86%, các nghiên cứu trước đây cho thấy thai phụ nhiễm SARS có tỷ lệ biến chứng cao, như sảy thai tự nhiên, sinh non và giảm tăng trưởng trong tử cung.

Những biến chứng này không xảy ra với cả 9 thai phụ bị nhiễm Covid-19 trong nghiên cứu. Tóm lại, bằng chứng từ các trận dịch virus corona bao gồm Covid-19, SARS và MERS cho thấy trẻ dường như không nhiễm virus corona từ mẹ.

Mặc dù nghiên cứu này giúp yên tâm phần nào về nguy cơ lây Covid-19 cho thai nhi, tuy nhiên phụ nữ mang thai rất dễ nhiễm mầm bệnh qua đường hô hấp, bao gồm Covid-19, và phát triển bệnh viêm phổi nặng hơn so với người bình thường. Do đó phụ nữ mang thai cần được coi là quần thể có nguy cơ chính trong các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát nhiễm Covid-19.

Nguồn vinmec

Xem thêm: Học sinh nhiễm Covid-19, thi tốt nghiệp THPT như thế nào?

Continue Reading

Đời thường

11 bệnh nền gây nguy hiểm cho người mắc Covid-19

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) khuyến cáo bệnh nền là yếu tố ảnh hưởng lớn đến mức độ nghiêm trọng và nguy cơ tử vong ở bệnh nhân Covid-19.

11 bệnh nền gây nguy hiểm cho người mắc Covid-19

1. Bệnh phổi là một trong những bệnh nền khiến bệnh nhân tử vong cao nhất:

Mắc bệnh phổi mãn tính có khả năng khiến quý vị mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19 nhiều hơn. Các bệnh này có thể bao gồm:

  • Hen suyễn, nếu mức độ từ trung bình đến nặng
  • Bệnh tăng huyết áp phổi (áp huyết tăng ở phổi)
  • Mô phổi bị tổn thương hoặc sẹo hóa, ví dụ như bệnh phổi kẽ (bao gồm xơ phổi vô căn)
  • Bệnh thuyên tắc phổi mãn tính (COPD), bao gồm khí thũng và viêm phế quản mãn tính
  • Xơ nang, với phổi hoặc cơ quan thể rắn khác được cấy ghép hoặc không

2. Ung thư: 

Người đang bị ung thư cũng có nguy cơ gặp nhiều nguy hiểm hơn nếu nhiễm SARS-CoV-2 gây bệnh Covid-19. Tuy nhiên, đến nay chưa có thông tin kết luận việc từng mắc bệnh này và đã điều trị thành công có làm bệnh nhân Covid-19 gặp phải nguy cơ tương tự hay không.

Việc điều trị cho nhiều loại ung thư có thể khiến khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể quý vị bị yếu đi.  Hiện tại, dựa trên các nghiên cứu sẵn có, có tiền sử mắc ung thư có thể làm tăng nguy cơ của quý vị.

3. Bệnh thận mãn tính:

Bị bệnh thận mạn tính ở bất kỳ giai đoạn nào đều làm tăng nguy cơ trở nặng và tử vong khi mắc thêm Covid-19.

4. Tiểu đường (tuýp 1 hoặc tuýp 2): 

Người bị bệnh tiểu đường thể 1, thể 2 hay tiểu đường thai kỳ nếu không được kiểm soát tốt sẽ có nhiều khả năng mắc Covid-19 và gặp phải tình trạng bệnh trầm trọng hơn.

5. Hội chứng bệnh Down:

Hội chứng Down đã được CDC bổ sung vào danh sách này trong lần cập nhật mới nhất hồi tháng 12.2020. Đây cũng là bệnh lý nền có khả năng làm tăng nguy cơ chuyển biến xấu cho bệnh nhân nếu nhiễm thêm Covid-19.

6. Bệnh tim mạch (như suy tim, bệnh động mạnh vành, bệnh cơ tim hoặc cao huyết áp): 

Hệ thống hô hấp và tim mạch vốn liên kết chặt chẽ với nhau. Những bệnh nhân Covid-19 có bất kỳ bệnh nền nào liên quan đến suy tim, tim mạch hoặc mạch máu não (chẳng hạn như huyết áp cao hay đột quỵ) sẽ làm tăng nguy cơ trở nặng khi nhiễm Covid-19.

7. Bệnh hồng cầu hình liềm, thalassemia: 

Người mắc bệnh rối loạn huyết sắc tố như hồng cầu hình liềm (SCD) và bệnh thalassemia (tan máu bẩm sinh) cũng có nguy cơ trở nặng khi mắc Covid-19.

8. Suy giảm hệ miễn dịch:

Chứng suy giảm miễn dịch đặc trưng ở những người trải qua hóa trị, xạ trị ung thư, ghép tạng hay tủy sống, người nhiễm HIV, người sử dụng các loại thuốc làm suy giảm miễn dịch (chẳng hạn corticosteroid) trong thời gian dài… cũng làm tăng mức độ bệnh khi nhiễm SARS-CoV-2.

9. Bệnh gan:

Người mắc bệnh gan mạn tính, chẳng hạn như bệnh gan liên quan đến bia, rượu, gan nhiễm mỡ và đặc biệt là xơ gan, có thể làm phức tạp hơn tình trạng bệnh khi nhiễm Covid-19.

10. Rối loạn thần kinh hoặc bệnh mất trí nhớ: 

Các chứng rối loạn thần kinh như bệnh đa xơ cứng, Parkinson hoặc chứng mất trí nhớ thể Lewy (DLB)… có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của Covid-19, bởi chúng dễ làm rối loạn phản xạ nuốt, làm giảm phản xạ ho hoặc gây suy yếu cơ hô hấp.

11. Thừa cân: 

Thừa cân (được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể (BMI) > 25 kg/m2 nhưng < 30 kg/m2), béo phì (BMI ≥30 kg/m2 nhưng < 40 kg/m2) hoặc béo phì nghiêm trọng (BMI ≥40 kg/m2), có thể làm tăng khả năng mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19. Nguy cơ mắc COVID-19 nghiêm trọng tăng mạnh khi BMI tăng lên.
Nguồn thanhnien
Continue Reading

Đời thường

10 khuyến cáo người dân cần phải thuộc ‘nằm lòng’ để phòng chống Covid-19

Bộ Y tế đưa ra 10 khuyến cáo phòng chống Covid-19. Đến sáng nay 6-4, nước ta ghi nhận 241 ca nhiễm, 91 ca đã được công bố khỏi bệnh và ra viện.

Nguồn tuoitre.vn

Continue Reading

Bài xem nhiều