Connect with us

Đời thường

Liệu súc miệng có phòng chống được Covid-19?

Hiện chưa có xác nhận khoa học chứng minh chắc chắn “việc súc miệng ngăn ngừa nhiễm trùng đường hô hấp cấp Covid-19 do chủng mới của virus corona (SARS-CoV-2) gây ra, cũng như bất kỳ loại virus, hoặc vi khuẩn nào khác”.

bang chung khoa hoc chung minh suc mieng phong chong benh covid 19

Chưa có chứng minh khoa học chắc chắn “việc súc miệng ngăn ngừa nhiễm trùng do SARS-CoV-2 gây ra, cũng như bất kỳ loại virus, hoặc vi khuẩn nào khác. (Nguồn: Snopes)

Chưa có chứng minh khoa học chắc chắn “việc súc miệng ngăn ngừa nhiễm trùng do SARS-CoV-2 gây ra, cũng như bất kỳ loại virus, hoặc Khi người Mỹ tìm kiếm các cách nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh Covid-19, một chủ đề được nhiều người quan tâm trên internet là súc miệng. Vậy tại sao có khuyến cáo súc miệng và có bằng chứng y tế nào chứng minh súc miệng có thể giúp chống lại virus corona hoặc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác hay không?

Thực tế, cho đến nay, cũng giống như không ít các khuyến cáo y tế khác, không có “tiêu chuẩn vàng” nào, cũng như chưa có thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát quy mô lớn nào để xác nhận chắc chắn hiệu quả của việc súc miệng bằng nước muối, giấm hoặc bất kỳ giải pháp súc miệng nào khác để ngăn ngừa nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới do virus corona gây ra, hoặc bất kỳ virus hoặc vi khuẩn khác.

Các nghiên cứu nhỏ hơn thì đã chỉ ra rằng, nước súc miệng và nhiều loại chất lỏng khác thường được sử dụng để súc miệng có thể tiêu diệt vi khuẩn, nhưng liệu việc súc miệng có thực sự ngăn ngừa hoặc điều trị bệnh hay không thực tế vẫn chưa được chứng minh trong các thử nghiệm nghiêm ngặt.

Tuy nhiên, súc miệng là một biện pháp vệ sinh cá nhân phổ biến ở nhiều quốc gia. Ở Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, việc súc miệng được cả Chính phủ khuyến khích, cùng với các hoạt động khác như rửa tay, đeo khẩu trang và cách ly xã hội (social distancing), như một khuyến cáo về vệ sinh cá nhân thường xuyên trong mùa lạnh và phòng bệnh cúm thông thường. Tất nhiên, không phải ai cũng có thể súc miệng hiệu quả, trong đó có trường hợp của một số người bị đau cổ, đột quỵ hoặc mất trí nhớ, cũng như trẻ em dưới 8 tuổi.

Đó là lý do không ngạc nghiên khi hầu hết các nghiên cứu ban đầu của Nhật Bản đều cho thấy, súc miệng có thể giúp ngăn ngừa và điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới.

Phát hiện đáng chú ý nhất đến nay cho thấy, dung dịch súc miệng không cần kê đơn có thành phần Povidone-iodine được sử dụng thường xuyên trong nhiều thập kỷ bởi người dân Nhật Bản và các nơi khác để điều trị đau họng.

Trong một nghiên cứu thử nghiệm nhỏ của Nhật Bản từ năm 2002, 23 bệnh nhân mắc bệnh hô hấp mãn tính đã súc miệng 4 lần trở lên mỗi ngày bằng dung dịch Povidone-iodine . Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy, so với số ca nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính trước khi nhóm bắt đầu súc miệng, súc miệng thường xuyên trong vài tháng đến 2 năm với dung dịch Povidone-iodine đã giúp giảm khoảng 50% tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính. Súc miệng bằng dung dịch có thể làm giảm nhiễm trùng do một số vi khuẩn khá nguy hiểm, trong đó có Pseudomonas (trực khuẩn mủ xanh), Staph (bao gồm MRSA) (tụ cầu vàng) và Haemophilus (có khả năng gây ra các bệnh nguy hiểm, chẳng hạn viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết đối với trẻ em)…

Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy lợi ích của việc súc miệng, mặc dù một hạn chế lớn trong các nghiên cứu nhỏ ở phòng thí nghiệm là đôi khi không hoàn toàn chính xác khi ứng dụng trong cuộc sống.

Một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm gần đây của Đức, do một nhà sản xuất dung dịch súc miệng Povidone-iodin tài trợ, đã cho thấy, giải pháp súc miệng có thể loại bỏ hơn 99% các chủng virus corona gây bệnh SARS và MERS – họ hàng rất gần với virus SARS-CoV-2 gây bệnh Covid-19 hiện nay. Trước đây, một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của Nhật Bản cũng đã chứng minh rằng, các sản phẩm có  Povidone-iodin vượt trội hơn các loại thuốc sát trùng thông thường khác như chlorhexidine gluconate và benzalkonium clorua, trong việc vô hiệu hóa nhiều loại virus phổ biến khác, như coxsackie, rhovovirus, adenovirus, rotavirus. Tuy nhiên, các thử nghiệm lâm sàng ở người sẽ vẫn rất cần thiết để xác định mức độ phù hợp đối với bệnh nhân.

Chẳng hạn, tại Mỹ, các dung dịch có chứa Povidone-iodin được bán dưới dạng chất khử trùng da, có chứa các thành phần có thể gây hại nghiêm trọng nếu con người nuốt phải. Các chế phẩm phù hợp cho súc miệng thường không có sẵn ở đất nước này. Không thể súc miệng với các dung dịch khử trùng da, kể cả những chất có chứa Povidone-iodin, vì nó khá nguy hiểm. Tại Canada, một dung dịch súc miệng Povidone-iodin được bán dưới tên Betadine, tuy nhiên, một số người bị dị ứng với iốt, thậm chí iốt có thể gây hại đối với những bệnh nhân có vấn đề về tuyến giáp.

bang chung khoa hoc chung minh suc mieng phong chong benh covid 19

Dung dịch súc miệng gồm 1 muỗng cà phê muối hòa tan trong một cốc nước để tạo ra dung dịch muối xấp xỉ 3%, súc miệng sáu lần một ngày. (Nguồn: Medium)

Chưa có nhiều bằng chứng cho thấy lợi ích kháng khuẩn tiềm tàng của các giải pháp súc miệng khác. Ví dụ, thuốc sát trùng Listerine đã được chứng minh dù có hoạt tính kháng virus trong các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm nhưng đã có thể phơi nhiễm chỉ trong ít nhất 30 giây, dù các nghiên cứu chưa xem xét đến virus corona.

Tuy nhiên, từ Anh, một nghiên cứu lâm sàng gần đây trên 66 bệnh nhân đã cho thấy hiệu quả rất đáng quan tâm, việc sử dụng dung dịch muối tự chế để rửa mũi và súc miệng đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc cúm và cảm lạnh. Dung dịch súc miệng trong nghiên cứu gồm 1 muỗng cà phê muối hòa tan trong một cốc nước để tạo ra dung dịch muối xấp xỉ 3%, súc miệng 6 lần một ngày.

Một nghiên cứu khác trong phòng thí nghiệm của cùng một nhóm các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra cơ chế hoạt động tiềm năng của dung dịch muối. Theo đó, các tế bào ở cổ họng đã lấy thêm clo từ dung dịch muối để tạo ra một hợp chất có đặc tính kháng virus khá hữu hiệu.

Các nghiên cứu nhỏ khác đã đề xuất phương pháp phòng chống virus bằng súc miệng với trà xanh hoặc dung dịch chứa catechin, hoạt chất của trà xanh hoặc với giấm táo. Những nghiên cứu này đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm, tuy nhiên vẫn chưa rõ sự liên quan về lâm sàng đối với bệnh nhân và hiện cũng chưa có nghiên cứu cụ thể nào đối với việc kháng virus corona. Một nghiên cứu thậm chí còn cho rằng, việc súc miệng bằng nước máy có thể hữu ích trong việc giảm tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp trên ở những người khỏe mạnh, nhưng một nghiên cứu sau đó đã không xác nhận phát hiện này.

Tóm lại, việc súc miệng thực sự chống lại được virus gây cảm lạnh, cúm, kể cả SAR-CoV-2 hiện nay hay không vẫn còn phải nghiên cứu. Nhưng khi chúng ta cân nhắc việc súc miệng từ góc độ tỷ lệ rủi ro và lợi ích, dường như có rất ít nhược điểm đối với việc súc miệng thường xuyên. Nó có chi phí thấp và ít nhất có thể giảm đau họng.

Nguồn baoquocte.vn

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đời thường

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Đặc trưng của chủng Covid-19 là khả năng lây nhiễm qua đường hô hấp và có thể làm người bệnh tử vong vì viêm phổi. Phụ nữ mang thai dễ nhiễm mầm bệnh qua đường hô hấp do hệ miễn dịch hoạt động kém hiệu quả và sinh lý hô hấp thay đổi trong giai đoạn mang thai. Vì vậy câu hỏi đặt ra là liệu Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

1. Nghiên cứu về khả năng lây truyền Covid-19 có lây từ mẹ sang con

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Để trả lời câu hỏi này, các nhà khoa học đã nghiên cứu sự có mặt của Covid-19 trong nước ối, máu dây rốn, và sữa của 9 thai phụ nhiễm Covid-19 cũng như dịch phết họng ở thai nhi của họ. Cả 9 thai phụ đều có sức khỏe tốt trước khi mang thai nhưng nhập viện vì viêm phổi trong khoảng từ tuần 36 đến tuần 39 + 4 ngày mang thai và có xét nghiệm dương tính với Covid-19, cùng các triệu chứng khác nhưng không phải thở máy.

Cả 9 thai nhi được sinh ra bằng cách sinh mổ, mẹ và bé đều không xuất hiện biến chứng nghiêm trọng. Xét nghiệm cho thấy không có Covid-19 trong nước ối, máu dây rốn, sữa mẹ và dịch phết họng trẻ sơ sinh được lấy mẫu.

2. Chưa có bằng chứng về sự lây nhiễm Covid-19 từ thai phụ sang thai nhi

Mặc dù có số mẫu khá nhỏ là 9 trường hợp, nghiên cứu này gợi ý rằng cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có bằng chứng Covid-19 có lây từ mẹ sang con. Đáng lưu ý là mặc dù hệ gene của Covid-19 và SARS giống nhau tới 86%, các nghiên cứu trước đây cho thấy thai phụ nhiễm SARS có tỷ lệ biến chứng cao, như sảy thai tự nhiên, sinh non và giảm tăng trưởng trong tử cung.

Những biến chứng này không xảy ra với cả 9 thai phụ bị nhiễm Covid-19 trong nghiên cứu. Tóm lại, bằng chứng từ các trận dịch virus corona bao gồm Covid-19, SARS và MERS cho thấy trẻ dường như không nhiễm virus corona từ mẹ.

Mặc dù nghiên cứu này giúp yên tâm phần nào về nguy cơ lây Covid-19 cho thai nhi, tuy nhiên phụ nữ mang thai rất dễ nhiễm mầm bệnh qua đường hô hấp, bao gồm Covid-19, và phát triển bệnh viêm phổi nặng hơn so với người bình thường. Do đó phụ nữ mang thai cần được coi là quần thể có nguy cơ chính trong các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát nhiễm Covid-19.

Nguồn vinmec

Xem thêm: Học sinh nhiễm Covid-19, thi tốt nghiệp THPT như thế nào?

Continue Reading

Đời thường

11 bệnh nền gây nguy hiểm cho người mắc Covid-19

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) khuyến cáo bệnh nền là yếu tố ảnh hưởng lớn đến mức độ nghiêm trọng và nguy cơ tử vong ở bệnh nhân Covid-19.

11 bệnh nền gây nguy hiểm cho người mắc Covid-19

1. Bệnh phổi là một trong những bệnh nền khiến bệnh nhân tử vong cao nhất:

Mắc bệnh phổi mãn tính có khả năng khiến quý vị mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19 nhiều hơn. Các bệnh này có thể bao gồm:

  • Hen suyễn, nếu mức độ từ trung bình đến nặng
  • Bệnh tăng huyết áp phổi (áp huyết tăng ở phổi)
  • Mô phổi bị tổn thương hoặc sẹo hóa, ví dụ như bệnh phổi kẽ (bao gồm xơ phổi vô căn)
  • Bệnh thuyên tắc phổi mãn tính (COPD), bao gồm khí thũng và viêm phế quản mãn tính
  • Xơ nang, với phổi hoặc cơ quan thể rắn khác được cấy ghép hoặc không

2. Ung thư: 

Người đang bị ung thư cũng có nguy cơ gặp nhiều nguy hiểm hơn nếu nhiễm SARS-CoV-2 gây bệnh Covid-19. Tuy nhiên, đến nay chưa có thông tin kết luận việc từng mắc bệnh này và đã điều trị thành công có làm bệnh nhân Covid-19 gặp phải nguy cơ tương tự hay không.

Việc điều trị cho nhiều loại ung thư có thể khiến khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể quý vị bị yếu đi.  Hiện tại, dựa trên các nghiên cứu sẵn có, có tiền sử mắc ung thư có thể làm tăng nguy cơ của quý vị.

3. Bệnh thận mãn tính:

Bị bệnh thận mạn tính ở bất kỳ giai đoạn nào đều làm tăng nguy cơ trở nặng và tử vong khi mắc thêm Covid-19.

4. Tiểu đường (tuýp 1 hoặc tuýp 2): 

Người bị bệnh tiểu đường thể 1, thể 2 hay tiểu đường thai kỳ nếu không được kiểm soát tốt sẽ có nhiều khả năng mắc Covid-19 và gặp phải tình trạng bệnh trầm trọng hơn.

5. Hội chứng bệnh Down:

Hội chứng Down đã được CDC bổ sung vào danh sách này trong lần cập nhật mới nhất hồi tháng 12.2020. Đây cũng là bệnh lý nền có khả năng làm tăng nguy cơ chuyển biến xấu cho bệnh nhân nếu nhiễm thêm Covid-19.

6. Bệnh tim mạch (như suy tim, bệnh động mạnh vành, bệnh cơ tim hoặc cao huyết áp): 

Hệ thống hô hấp và tim mạch vốn liên kết chặt chẽ với nhau. Những bệnh nhân Covid-19 có bất kỳ bệnh nền nào liên quan đến suy tim, tim mạch hoặc mạch máu não (chẳng hạn như huyết áp cao hay đột quỵ) sẽ làm tăng nguy cơ trở nặng khi nhiễm Covid-19.

7. Bệnh hồng cầu hình liềm, thalassemia: 

Người mắc bệnh rối loạn huyết sắc tố như hồng cầu hình liềm (SCD) và bệnh thalassemia (tan máu bẩm sinh) cũng có nguy cơ trở nặng khi mắc Covid-19.

8. Suy giảm hệ miễn dịch:

Chứng suy giảm miễn dịch đặc trưng ở những người trải qua hóa trị, xạ trị ung thư, ghép tạng hay tủy sống, người nhiễm HIV, người sử dụng các loại thuốc làm suy giảm miễn dịch (chẳng hạn corticosteroid) trong thời gian dài… cũng làm tăng mức độ bệnh khi nhiễm SARS-CoV-2.

9. Bệnh gan:

Người mắc bệnh gan mạn tính, chẳng hạn như bệnh gan liên quan đến bia, rượu, gan nhiễm mỡ và đặc biệt là xơ gan, có thể làm phức tạp hơn tình trạng bệnh khi nhiễm Covid-19.

10. Rối loạn thần kinh hoặc bệnh mất trí nhớ: 

Các chứng rối loạn thần kinh như bệnh đa xơ cứng, Parkinson hoặc chứng mất trí nhớ thể Lewy (DLB)… có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của Covid-19, bởi chúng dễ làm rối loạn phản xạ nuốt, làm giảm phản xạ ho hoặc gây suy yếu cơ hô hấp.

11. Thừa cân: 

Thừa cân (được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể (BMI) > 25 kg/m2 nhưng < 30 kg/m2), béo phì (BMI ≥30 kg/m2 nhưng < 40 kg/m2) hoặc béo phì nghiêm trọng (BMI ≥40 kg/m2), có thể làm tăng khả năng mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19. Nguy cơ mắc COVID-19 nghiêm trọng tăng mạnh khi BMI tăng lên.
Nguồn thanhnien
Continue Reading

Đời thường

10 khuyến cáo người dân cần phải thuộc ‘nằm lòng’ để phòng chống Covid-19

Bộ Y tế đưa ra 10 khuyến cáo phòng chống Covid-19. Đến sáng nay 6-4, nước ta ghi nhận 241 ca nhiễm, 91 ca đã được công bố khỏi bệnh và ra viện.

Nguồn tuoitre.vn

Continue Reading

Bài xem nhiều