Connect with us

Đời thường

Cung cấp đủ vitamin và khoáng chất để tăng đề kháng, mọi người nên ăn những thực phẩm gì?

Những vitamin và khoáng chất cần thiết cho hệ miễn dịch gồm vitamin A, B2, B6, B9 (folate), B12, C, E, kẽm, selenium. Đây là những thứ cơ thể chúng ta không tự sản xuất được mà phải ‘nhập khẩu’ từ thức ăn.

Ăn sao cho đủ vitamin và khoáng chất để tăng đề kháng? - Ảnh 1.

Chế độ ăn cân đối, đa dạng sẽ cung cấp đủ vitamin và khoáng chất cơ thể cần

Vitamin và khoáng chất là chìa khóa quan trọng trong tăng cường sức đề kháng. Những vitamin và khoáng chất cần thiết cho hệ miễn dịch bao gồm Vitamin A, B2, B6, B9 (folate), B12, C, E, kẽm, selenium.

Hệ miễn dịch của cơ thể chúng ta bao gồm một hệ thống phức tạp các tổ chức, tế bào bạch cầu và hệ thống giao thông riêng giống như những trụ sở và các chiến sĩ của ngành công an trong một quốc gia.

Khi có một tác nhân lạ xâm nhập, hệ thống miễn dịch sẽ bao vây, cô lập, nhận diện đặc điểm, truyền tín hiệu về trung ương, tăng sản xuất các “chiến binh” là tế bào bạch cầu và “vũ khí” là kháng thể đặc hiệu với tác nhân đó để tiêu diệt.

Để quá trình này nhanh gọn và trơn tru thì cần đủ vitamin và khoáng chất.

Để cung cấp đủ vitamin và khoáng chất, với chế độ ăn của người Việt Nam hiện tại cũng tạm ổn, nhưng cần lưu ý 3 vấn đề: dùng sữa và chế phẩm từ sữa đều đặn hơn, dùng đậu hạt cho thức ăn phụ nhiều hơn và dùng ngũ cốc nguyên hạt thường xuyên hơn.

Sữa và chế phẩm từ sữa: Ngoài cung cấp Canxi, Phospho, các acid amin thiết yếu, sữa và chế phẩm từ sữa còn là nguồn cung cấp Vitamin B2 (Riboflavin) cho hệ miễn dịch. Một chế độ ăn ít sữa và chế phẩm từ sữa thường thiếu vitamin này.

Nhiều người Việt hay bị rối loạn tiêu hóa khi uống sữa, do đó có thể sử dụng các loại chế phẩm sữa khác như sữa chua, phô mai, hoặc uống một lần lượng sữa nhỏ 50-100ml lúc bụng no hoặc sử dụng sữa không lactose sẽ giảm khó chịu này.

Theo khuyến nghị, người trưởng thành nên tiêu thụ 3 đơn vị sữa mỗi ngày. Một đơn vị sữa tương đương 1 hủ sữa chua, 1 viên phô mai và 100ml sữa tươi.

Đậu hạt (ví dụ hạt điều, đậu phộng, đậu nành, óc chó, hạt hướng dương, hạt bí, hạt dẻ, hạt mè) là nguồn cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất quan trọng, đặc biệt là kẽm, vitamin E, vitamin nhóm B. Do đó một ít hạt điều rang, đậu phộng rang, đậu phộng luộc, hạt đậu nành rang, lạc rang với mè… là những thức ăn phụ lý tưởng. Nhưng lưu ý nhóm này có nhiều chất béo nên ăn vừa phải để hạn chế tăng cân.

Cạnh đó, nên chuyển sang dùng thêm cơm gạo lứt và bánh mì nâu để có được các vitamin và khoáng chất trong lớp vỏ cám còn lại. Lớp cám là nguồn cung cấp lý tưởng vitamin nhóm B, selenium, kẽm và các khoáng chất khác.

Gạo lứt thường cứng hơn gạo thường nên cần ngâm trước khi nấu. Nếu không thể ăn hết nồi cơm gạo lứt thì có thể trộn với gạo trắng một phần. Bánh mì nâu cũng có bán phổ biến ở các siêu thị.

Những ai dễ bị thiếu vitamin và khoáng chất?

Về cơ bản, chỉ cần áp dụng chế độ ăn cân đối, đa dạng đã đủ cung cấp vitamin và khoáng chất cơ thể cần. Chế độ ăn này bao gồm ít nhất 3 phần trái cây, 3-4 phần rau mỗi ngày; phân bổ đều thực phẩm giàu đạm trong tuần: thịt, cá, gia cầm, hải sản, đậu hũ. Lưu ý hạn chế đường, muối, béo để tránh tăng cân và tăng huyết áp.

Vitamin và khoáng chất chỉ thiếu ở một số đối tượng do thiếu cung cấp (kén ăn, biếng ăn, ăn kiêng), tăng nhu cầu (trẻ em, phụ nữ mang thai, người nghiện rượu), giảm hấp thu (người cao tuổi, người có bệnh lý viêm nhiễm, cắt đoạn ở dạ dày và ruột non).

Ở người mắc bệnh mạn tính không lây cũng gia tăng nguy cơ thiếu vitamin và khoáng chất. Nghiên cứu cho thấy người mắc bệnh đái tháo đường thường thiếu vitamin và khoáng chất do chế độ ăn kiêng không phù hợp, do sử dụng thuốc điều trị bệnh đái tháo đường, cholesterol, goute, giảm hấp thu do cao tuổi.

Ngoài ra stress, mất ngủ, hút thuốc, uống nhiều rượu bia, vận động thể lực quá mức cũng làm hao hụt nhiều vitamin và khoáng chất trong cơ thể. Tiếp xúc ánh nắng mặt trời và bổ sung bằng thuốc là nguồn cung cấp vitamin D chính cho cơ thể.

Nguồn tuoitre.vn

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đời thường

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Đặc trưng của chủng Covid-19 là khả năng lây nhiễm qua đường hô hấp và có thể làm người bệnh tử vong vì viêm phổi. Phụ nữ mang thai dễ nhiễm mầm bệnh qua đường hô hấp do hệ miễn dịch hoạt động kém hiệu quả và sinh lý hô hấp thay đổi trong giai đoạn mang thai. Vì vậy câu hỏi đặt ra là liệu Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

1. Nghiên cứu về khả năng lây truyền Covid-19 có lây từ mẹ sang con

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Để trả lời câu hỏi này, các nhà khoa học đã nghiên cứu sự có mặt của Covid-19 trong nước ối, máu dây rốn, và sữa của 9 thai phụ nhiễm Covid-19 cũng như dịch phết họng ở thai nhi của họ. Cả 9 thai phụ đều có sức khỏe tốt trước khi mang thai nhưng nhập viện vì viêm phổi trong khoảng từ tuần 36 đến tuần 39 + 4 ngày mang thai và có xét nghiệm dương tính với Covid-19, cùng các triệu chứng khác nhưng không phải thở máy.

Cả 9 thai nhi được sinh ra bằng cách sinh mổ, mẹ và bé đều không xuất hiện biến chứng nghiêm trọng. Xét nghiệm cho thấy không có Covid-19 trong nước ối, máu dây rốn, sữa mẹ và dịch phết họng trẻ sơ sinh được lấy mẫu.

2. Chưa có bằng chứng về sự lây nhiễm Covid-19 từ thai phụ sang thai nhi

Mặc dù có số mẫu khá nhỏ là 9 trường hợp, nghiên cứu này gợi ý rằng cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có bằng chứng Covid-19 có lây từ mẹ sang con. Đáng lưu ý là mặc dù hệ gene của Covid-19 và SARS giống nhau tới 86%, các nghiên cứu trước đây cho thấy thai phụ nhiễm SARS có tỷ lệ biến chứng cao, như sảy thai tự nhiên, sinh non và giảm tăng trưởng trong tử cung.

Những biến chứng này không xảy ra với cả 9 thai phụ bị nhiễm Covid-19 trong nghiên cứu. Tóm lại, bằng chứng từ các trận dịch virus corona bao gồm Covid-19, SARS và MERS cho thấy trẻ dường như không nhiễm virus corona từ mẹ.

Mặc dù nghiên cứu này giúp yên tâm phần nào về nguy cơ lây Covid-19 cho thai nhi, tuy nhiên phụ nữ mang thai rất dễ nhiễm mầm bệnh qua đường hô hấp, bao gồm Covid-19, và phát triển bệnh viêm phổi nặng hơn so với người bình thường. Do đó phụ nữ mang thai cần được coi là quần thể có nguy cơ chính trong các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát nhiễm Covid-19.

Nguồn vinmec

Xem thêm: Học sinh nhiễm Covid-19, thi tốt nghiệp THPT như thế nào?

Continue Reading

Đời thường

11 bệnh nền gây nguy hiểm cho người mắc Covid-19

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) khuyến cáo bệnh nền là yếu tố ảnh hưởng lớn đến mức độ nghiêm trọng và nguy cơ tử vong ở bệnh nhân Covid-19.

11 bệnh nền gây nguy hiểm cho người mắc Covid-19

1. Bệnh phổi là một trong những bệnh nền khiến bệnh nhân tử vong cao nhất:

Mắc bệnh phổi mãn tính có khả năng khiến quý vị mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19 nhiều hơn. Các bệnh này có thể bao gồm:

  • Hen suyễn, nếu mức độ từ trung bình đến nặng
  • Bệnh tăng huyết áp phổi (áp huyết tăng ở phổi)
  • Mô phổi bị tổn thương hoặc sẹo hóa, ví dụ như bệnh phổi kẽ (bao gồm xơ phổi vô căn)
  • Bệnh thuyên tắc phổi mãn tính (COPD), bao gồm khí thũng và viêm phế quản mãn tính
  • Xơ nang, với phổi hoặc cơ quan thể rắn khác được cấy ghép hoặc không

2. Ung thư: 

Người đang bị ung thư cũng có nguy cơ gặp nhiều nguy hiểm hơn nếu nhiễm SARS-CoV-2 gây bệnh Covid-19. Tuy nhiên, đến nay chưa có thông tin kết luận việc từng mắc bệnh này và đã điều trị thành công có làm bệnh nhân Covid-19 gặp phải nguy cơ tương tự hay không.

Việc điều trị cho nhiều loại ung thư có thể khiến khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể quý vị bị yếu đi.  Hiện tại, dựa trên các nghiên cứu sẵn có, có tiền sử mắc ung thư có thể làm tăng nguy cơ của quý vị.

3. Bệnh thận mãn tính:

Bị bệnh thận mạn tính ở bất kỳ giai đoạn nào đều làm tăng nguy cơ trở nặng và tử vong khi mắc thêm Covid-19.

4. Tiểu đường (tuýp 1 hoặc tuýp 2): 

Người bị bệnh tiểu đường thể 1, thể 2 hay tiểu đường thai kỳ nếu không được kiểm soát tốt sẽ có nhiều khả năng mắc Covid-19 và gặp phải tình trạng bệnh trầm trọng hơn.

5. Hội chứng bệnh Down:

Hội chứng Down đã được CDC bổ sung vào danh sách này trong lần cập nhật mới nhất hồi tháng 12.2020. Đây cũng là bệnh lý nền có khả năng làm tăng nguy cơ chuyển biến xấu cho bệnh nhân nếu nhiễm thêm Covid-19.

6. Bệnh tim mạch (như suy tim, bệnh động mạnh vành, bệnh cơ tim hoặc cao huyết áp): 

Hệ thống hô hấp và tim mạch vốn liên kết chặt chẽ với nhau. Những bệnh nhân Covid-19 có bất kỳ bệnh nền nào liên quan đến suy tim, tim mạch hoặc mạch máu não (chẳng hạn như huyết áp cao hay đột quỵ) sẽ làm tăng nguy cơ trở nặng khi nhiễm Covid-19.

7. Bệnh hồng cầu hình liềm, thalassemia: 

Người mắc bệnh rối loạn huyết sắc tố như hồng cầu hình liềm (SCD) và bệnh thalassemia (tan máu bẩm sinh) cũng có nguy cơ trở nặng khi mắc Covid-19.

8. Suy giảm hệ miễn dịch:

Chứng suy giảm miễn dịch đặc trưng ở những người trải qua hóa trị, xạ trị ung thư, ghép tạng hay tủy sống, người nhiễm HIV, người sử dụng các loại thuốc làm suy giảm miễn dịch (chẳng hạn corticosteroid) trong thời gian dài… cũng làm tăng mức độ bệnh khi nhiễm SARS-CoV-2.

9. Bệnh gan:

Người mắc bệnh gan mạn tính, chẳng hạn như bệnh gan liên quan đến bia, rượu, gan nhiễm mỡ và đặc biệt là xơ gan, có thể làm phức tạp hơn tình trạng bệnh khi nhiễm Covid-19.

10. Rối loạn thần kinh hoặc bệnh mất trí nhớ: 

Các chứng rối loạn thần kinh như bệnh đa xơ cứng, Parkinson hoặc chứng mất trí nhớ thể Lewy (DLB)… có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của Covid-19, bởi chúng dễ làm rối loạn phản xạ nuốt, làm giảm phản xạ ho hoặc gây suy yếu cơ hô hấp.

11. Thừa cân: 

Thừa cân (được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể (BMI) > 25 kg/m2 nhưng < 30 kg/m2), béo phì (BMI ≥30 kg/m2 nhưng < 40 kg/m2) hoặc béo phì nghiêm trọng (BMI ≥40 kg/m2), có thể làm tăng khả năng mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19. Nguy cơ mắc COVID-19 nghiêm trọng tăng mạnh khi BMI tăng lên.
Nguồn thanhnien
Continue Reading

Đời thường

10 khuyến cáo người dân cần phải thuộc ‘nằm lòng’ để phòng chống Covid-19

Bộ Y tế đưa ra 10 khuyến cáo phòng chống Covid-19. Đến sáng nay 6-4, nước ta ghi nhận 241 ca nhiễm, 91 ca đã được công bố khỏi bệnh và ra viện.

Nguồn tuoitre.vn

Continue Reading

Bài xem nhiều